tâm lý người việt nam nhìn từ nhiều góc độ
Người Việt Nam Bộ từ góc nhìn tôn giáo - THÁNH ĐỊA VIỆT NAM HỌC Người Việt Nam Bộ, ngoài sự thống nhất với các vùng miền trong cả nước, còn có những nét riêng, một tính cách văn hóa bởi sự ứng xử và thích nghi với vùng đất, không gian sinh tồn mà họ đã lựa chọn, kiếm tìm từ hơn ba thế kỷ qua.
Tâm lý người Việt Nam nhìn từ nhiều góc độ. [Ho Chi Minh City] : Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2000 (DLC) 2001306235 (OCoLC)46876004: Material Type: Conference publication, Document, Government publication, National government publication, Internet resource: Document Type: Internet Resource, Computer File
Người Việt 4 phương Đại đoàn kết dân tộc nhìn từ góc độ lý luận và thực tiễn lịch sử Từ đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với vị trí là trung tâm của khối đại đoàn kết, nơi tập hợp, xây dựng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ có thêm
1. Việc nhìn nhận một vấn đề từ nhiều góc độ sẽ mang đến cho chúng ta những ích lợi gì? Việc nhìn nhận một vấn đề từ nhiều góc độ sẽ mang đến cho chúng ta sự hiểu biết, cái nhìn bao quát và đi đến những hành động đúng đắn trong cuộc sống.Con người có đôi mắt để nhìn đời phân biệt đục
Ich Bin Ein Mann Und Suche Eine Frau. Danh mục Khoa học xã hội ... Thơng yêu con ngờiXuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác - LêNin, đặc biệt từ thực tiễnđấu tranh của các dân tộc, Hồ Chí Minh cho rằng, trên đời này có nhiều ngời, nhiều công việc, nhng có thể ... luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đứccách mạng cho cán bộ, đảng viên. Một trong những bài giảng đầu tiên cho cholớp thanh niên tri thức yêu nớc đầu tiên của Việt Nam từ những ... dỡng đạo đức phải đợc thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trongđời t cũng nh đời công, trong mối quan hệ từ hẹp đến rộng, từ nhỏ đến lớn, từ quan hệ bạn bè, đồng chí, anh em, đến quan hệ... 17 5,385 18
Các hướng nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam Phạm Thu Trang* Tóm tắt Nghiên cứu về nhân cách đã được phân tích với các mức độ, phạm vi, mục đích khác nhau và từ nhiều góc độ như tâm lý học, xã hội học, đạo đức học, luật học, Trên thế giới vào những năm 1970-1980, nhiều trào lưu nghiên cứu về nhân cách trong tâm lý học đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia. Ở nước ta, nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam ban đầu chủ yếu được thể hiện trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về con người Việt Nam qua các tác phẩm của Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên cùng nhiều nhà khoa học khác, về sau, nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam đã được chú ý nhiều từ giới tâm lý học. Hiện nay, theo chúng tôi, nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam không chỉ được đề cập đến qua tâm lý học mà còn từ nhiều góc độ nghiên cứu khác như đạo đức học, văn học và văn hóa học, liên ngành khoa học xã hội, triết học. Từ khóa Nhân cách, Nghiên cứu về nhân cách, Nhân cách con người Việt Nam, Tâm lý học nhân cách 1. Các nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học Hiện nay,*trong nghiên cứu, nhân cách trước hết và chủ yếu vẫn là đối tượng của tâm lý học. Trong tâm lý học có riêng phân ngành là tâm lý học nhân cách đi sâu nghiên cứu đối tượng này. Theo đó, các quan điểm, lý thuyết về nhân cách cùng với những vấn đề của nó như khái niệm, cấu trúc, quá trình hình thành và phát triển cũng chủ yếu được xem xét từ góc độ của các nghiên cứu tâm lý học. Nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam dưới góc độ tâm lý học chủ yếu tập trung vào các nội dung nghiên cứu sau * ThS., Viện Thông tin thutrang84_triet KHXH; Email Thứ nhất, tập trung vào đối tượng nhân cách cụ thể như nhân cách người Hà Nội, nhân cách nhà kinh doanh giỏi, nhân cách người cán bộ, sĩ quan, nhân cách Hồ Chí Minh, nhân cách của hội thẩm nhân dân, nhân cách người cán bộ quân đội, nhân cách người lãnh đạo, quản lý, nhân cách người cán bộ khoa học, nhân cách kiểm toán viên nhà nước... Các nghiên cứu thuộc loại này thường làm rõ các đặc điểm, phẩm chất quan trọng, chủ yếu thuộc về nhân cách của các đối tượng được đề cập đến như bản lĩnh là phẩm chất cốt lõi của người cán bộ quân đội, nhân tố đức và tài của người lãnh đạo quản lý, các chỉ số hay các mặt cần thiết về trình độ trí tuệ, về kiến thức, kỹ năng, 2 về sức khỏe thể chất, về động cơ, thái độ của một nhà kinh doanh giỏi,... Phạm Tất Dong, 2010; Đỗ Long, 2004; Nguyễn Thị Thanh Tâm, 2011; Trần Trọng Thủy, 2004; Lê Hữu Xanh, 2006.... Thứ hai, cũng đề cập đến đối tượng nhân cách cụ thể, nhưng là những đối tượng khá đặc thù nên có không ít nghiên cứu đề cập đến nhân cách của học sinh, sinh viên Việt Nam với những phân tích về thực trạng, nguyên nhân của sự phát triển nhân cách của đối tượng này, trên cơ sở đó đưa ra những phương hướng, biện pháp giáo dục nhằm hình thành, phát triển nhân cách cho học sinh, sinh viên Việt Nam. Các nghiên cứu theo hướng này chủ yếu quan tâm đến các vấn đề sự hình thành và phát triển của hệ thống động cơ học tập, lao động, chọn nghề, giao tiếp, động cơ thành đạt…; khả năng tự đánh giá; sự định hướng giá trị chung và định hướng giá trị trong các hoạt động khác nhau; thái độ trước những vấn đề xã hội khác nhau cũng như đối với những hoạt động khác nhau; tinh thần trách nhiệm; hứng thú; khả năng thích ứng xã hội Nguyễn Thị Mai Lan, 2010; Phạm Thị Minh, 2005; Phạm Huy Thành, 2012. Thứ ba, tập trung vào những yếu tố, những phẩm chất tâm lý quan trọng, tích cực thuộc về nhân cách thông qua các biện pháp tác động tâm lý - giáo dục, đó là các vấn đề như hình thành động cơ nhân cách của hoạt động học tập; hình thành thái độ tích cực đối với học tập và đối với các vấn đề xã hội hiện nay; hình thành khả năng tự đánh giá và đánh giá khách quan, phù hợp; giáo dục tinh thần trách nhiệm, giáo dục hình thành kỹ năng sống; giáo dục hình thành khả năng sáng tạo, giáo dục tài năng, nhân tài,... Trần Anh Châu, 2008; Nguyễn Văn Huyên, 1995; Lê Hương, 2003; Phạm Thành Nghị, 2008.... Th“ng tin Khoa học xžÝ hội, số Thứ tư, nghiên cứu về những nhân cách bệnh lý, nhân cách phát triển lệch lạc, nhân cách đang trong quá trình suy thoái, phát hiện nguyên nhân sâu xa của sự lệch lạc để trên cơ sở đó có những biện pháp ngăn ngừa, trị liệu, giáo dục, tư vấn nhằm góp phần tạo ra một xã hội với những con người phát triển lành mạnh, hài hòa cả về thể chất lẫn tâm lý. Thuộc hướng nghiên cứu này, những vấn đề đã được làm rõ là đặc điểm nhân cách của người nghiện ma túy; đặc điểm nhân cách của gái mại dâm; ảnh hưởng của nhóm bạn tiêu cực đến những hành vi lệch chuẩn, hành vi vi phạm pháp luật của trẻ vị thành niên; những rối loạn hành vi và những dấu hiệu của chúng Phan Thị Mai Hương, 2005; Đỗ Long, 2000; Hồ Hữu Nhựt, 2004…. Cuối cùng là các nghiên cứu định lượng, lượng hóa các yếu tố nhân cách, theo hướng này các công trình đã Việt hóa hoặc bước đầu thích ứng một số phương pháp chuẩn hóa đo đạc, đánh giá nhân cách như thích ứng Test sáng tạo; Test đánh giá kỹ năng xã hội; Test định hướng giá trị nhân cách; Test đánh giá các mặt nhân cách của Cattell 16 PF; Test phóng chiếu TAT; NEO PI-R Đào Thị Oanh, 2007; Phạm Minh Hạc, 2007…. Như vậy, những nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam dưới góc độ của tâm lý học chủ yếu hướng tới tiếp cận những đối tượng nhân cách cụ thể, với những biện pháp tâm lý - giáo dục, với việc điều tra, lượng hóa các yếu tố và phẩm chất cụ thể của các đối tượng nhân cách đó Xem thêm Đào Thị Oanh, 2007 14-16. Bên cạnh đó, đề cập đến vai trò của các yếu tố tác động đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam như Vai trò của gia đình, của văn hóa gia đình Lê Thi, 1997; Lê Như Hoa, 2001, vai trò của nhà trường Hoàng Đức Nhuận, 1996, vai trò của pháp luật CŸc hướng nghi˚n cứu về nhŽn cŸch§ Nguyễn Đình Đặng Lục, 2005, vai trò của yếu tố văn hóa thẩm mỹ Lê Thị Thùy Dung, 2013; Lương Thị Quỳnh Khuê, 1995..., các nghiên cứu đều đi đến khẳng định, quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam là quá trình phức tạp. Trong quá trình đó, mỗi yếu tố đều có một vị trí, vai trò và ảnh hưởng không giống nhau, các yếu tố luôn biến đổi tùy thuộc vào mỗi giai đoạn phát triển của từng người cụ thể. Xác định, đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng yếu tố để có những biện pháp giáo dục và tác động phù hợp giúp cho nhân cách con người Việt Nam ngày càng trở nên hoàn thiện và tốt đẹp hơn, hướng tới những giá trị cao đẹp nhất, là một việc làm quan trọng, nhất là trong điều kiện hiện nay. 2. Các nghiên cứu dưới góc độ đạo đức học Đạo đức học xem xét nhân cách chủ yếu ở khía cạnh đạo đức cũng như vai trò và ảnh hưởng của giáo dục đạo đức đối với sự hình thành nhân cách. Trong lý luận nhân cách, đạo đức là gốc của nhân cách nhưng chưa nói lên đầy đủ, toàn bộ nhân cách. Cho nên không thể đồng nhất đạo đức vẫn thường được quan niệm là phẩm chất với nhân cách. Nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam dưới góc độ đạo đức học chủ yếu là các luận án tiến sĩ triết học tập trung nhấn mạnh đến giáo dục đạo đức hoặc vai trò của giáo dục đạo đức trong điều kiện hiện nay đối với sự hình thành của nhân cách con người Việt Nam. Trần Sỹ Phán trong Luận án tiến sĩ Triết học Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cho rằng, triết học Marx-Lenin xem xét nhân cách như là một chỉnh thể cá nhân có tính lịch sử - cụ thể, tham gia vào hoạt động thực tiễn, đóng vai trò của chủ thể nhận thức và cải tạo thế giới, chủ thể của 3 quyền hạn và nghĩa vụ, của những chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ và mọi chuẩn mực xã hội khác Trần Sỹ Phán, 1999 19. Đây là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu sự hình thành và phát triển nhân cách dưới góc độ cụ thể - đó là vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách. Cũng đề cập đến Vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới hiện nay, luận án tiến sĩ của Lê Thị Thủy 2000 lại khẳng định, vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay là tiêu chí và là nền tảng của nhân cách, góp phần tạo dựng nhân cách phát triển hài hòa, toàn diện, theo xu hướng nhân văn. Theo tác giả, trong điều kiện hiện nay để nâng cao vai trò của đạo đức cần thực hiện đồng bộ các giải pháp kinh tế-xã hội, giáo dục và văn hóa tinh thần. Trong đó, việc giữ vững định hướng chính trị trong phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội, đẩy mạnh hoạt động giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng, tận dụng lợi thế của văn hóa, đặc biệt là văn hóa nghệ thuật với những tác động biểu cảm và tinh tế của nó tới tâm hồn con người là những giải pháp thiết thực và chủ yếu. Tác giả Nguyễn Văn Phúc 1996 trong bài viết Vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách trong cơ chế thị trường đã phân tích một số biểu hiện tác động của cơ chế thị trường lên nhân cách và khẳng định rằng, giáo dục đạo đức sẽ góp phần lấy lại sự thống nhất, đảm bảo sự phát triển hài hòa cho nhân cách, “nó là một nhân tố tất yếu và quan trọng của chiến lược con người trong bối cảnh thị trường hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Tuy nhiên, theo tác giả, giáo dục đạo đức chỉ 4 có thể phát huy tác dụng khi nó được kết hợp với các giải pháp ngoài đạo đức là các giải pháp kinh tế-xã hội. Một cơ chế thị trường hoàn thiện được pháp chế hóa, sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những giải pháp phát triển lấy hiệu quả kinh tế-xã hội làm cơ sở... sẽ là cơ sở kinh tế-xã hội cho sự phát triển nhân cách. Là một trong số không nhiều công trình trực tiếp khẳng định việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống có vai trò không nhỏ trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ của Cao Thu Hằng 2011 cho rằng, ở Việt Nam hiện nay, việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng nhân cách là một tất yếu và để các giá trị đạo đức truyền thống phát huy được tác dụng tích cực đối với sự phát triển nhân cách con người Việt Nam, cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống, phát huy vai trò của pháp luật và cùng với đó là nâng cao tính tích cực của nhân dân trong việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống. Các giải pháp này có sự thống nhất và tác động qua lại lẫn nhau và đó là sự đảm bảo cho việc phát triển nhân cách con người Việt Nam đáp ứng được các yêu cầu của xã hội hiện nay. 3. Các nghiên cứu từ góc độ văn học và văn hóa học Những nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam từ góc độ văn học và văn hóa học chủ yếu đề cập đến việc xác định “mô hình nhân cách con người Việt Nam” như là những mẫu người tiêu biểu đại diện cho các giá trị văn hóa - lịch sử, là sự khái quát những giá trị, đặc trưng nổi bật của con người Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Theo đó, từ góc độ này, theo Hồ Liên 2008, các học giả chủ yếu định hình những mẫu người đó theo những chân dung văn học hay mô hình nhân cách của Th“ng tin Khoa học xžÝ hội, số một lớp người hay những nhân vật lịch sử có thật. Theo đó, từ góc độ nghiên cứu văn chương, Trương Tửu đề xuất mẫu hình của cặp “nhà nho tài tử” và “nhà nho quân tử”. Trần Đình Hượu đã xây dựng lý thuyết khảo sát “con người chức năng”, mẫu người “nhà nho tài tử”. Trần Ngọc Vương phác thảo mẫu người “Hoàng đế”. Dưới góc độ văn hóa học, Trần Quốc Vượng viết về những danh nhân tiêu biểu trong các giai đoạn văn hóa như Lý Nhân Tông thời nhà Lý, nhà giáo Chu Văn An ở giai đoạn nhà Trần, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Thánh Tông ở thời kỳ Hậu Lê, Mạc Đăng Dung, Trịnh Kiểm, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở giai đoạn cuối Lê đầu Nguyễn… Phan Ngọc viết về những nhân cách tiêu biểu của con người Việt Nam, trong đó có Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh… Cũng tiếp cận nhân cách con người Việt Nam từ góc độ văn hóa học, Đỗ Lai Thúy trình bày các “mẫu người văn hóa” để khái quát về “văn hóa Việt Nam” thể hiện trong tác phẩm Văn hóa Việt Nam Nhìn từ mẫu người văn hóa. Ông quan niệm rằng, “mẫu người văn hóa là khái niệm trừu tượng, có ý nghĩa khái quát về những lớp người có diện mạo tinh thần giống nhau, được hình thành trong khoảng thời gian lịch sử mà ở đó văn hóa bộc lộ những tính chất giống nhau, một khí hậu văn hóa giống nhau”. Và mẫu người văn hóa của các thời đại văn hóa cụ thể được Đỗ Lai Thúy gọi bằng “con người làng xã, con người vô ngã, con người quân tử, con người tài tử, con người cá nhân”. “…Con người làng xã làm nên căn cước của con người Việt Nam, quyết định bản sắc của văn hóa cổ truyền Việt Nam. Là phần lõi, là cơ tầng của văn hóa Việt Nam” Đỗ Lai Thúy, 2005 131. Sau con người làng xã, mẫu người văn hóa đại diện cho tinh thần dân tộc CŸc hướng nghi˚n cứu về nhŽn cŸch§ phát triển đến đỉnh cao là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng trong thời đại Lý - Trần là “con người vô ngã”. Đó là những con người kiệt xuất, những nhân cách lớn, những trí thức phóng khoáng có trình độ tư duy cao, những anh hùng chống giặc ngoại xâm… Họ đa dạng về nhân cách, về cá tính, về hành trạng, nhưng có một điểm chung tạo thành mẫu người tiêu biểu của thời đại, đó là đem cái tiểu ngã cá nhân, gia đình, làng xã hòa vào cái đại ngã dân tộc, ý thức về Tổ quốc là thiêng liêng, là trên hết. Sang đến thời kỳ mới, “con người quân tử” là kết quả của sự kết hợp giữa tinh thần dân tộc Đại Việt với sự khúc xạ tư tưởng Nho gia Trung Hoa, sự kết hợp giữa con người chức năng với con người cộng đồng mà chủ nghĩa yêu nước là nét cơ bản tạo nên diện mạo tinh thần của nó. Khi lịch sử Việt Nam chuyển sang bước ngoặt mới, những con người mới được hình thành trong cuộc chiến đấu lâu dài giành độc lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Mẫu người đại diện cho thời kỳ này là người anh hùng, người chiến sĩ, là “Anh lính cụ Hồ” và hiện thân tiêu biểu nhất của nhân cách văn hóa này chính là Hồ Chí Minh. 4. Các nghiên cứu từ góc độ liên ngành khoa học xã hội Nhân cách với những yếu tố và thành phần trong cấu trúc của nó vừa được tâm lý học nghiên cứu nhưng đồng thời cũng được đo đạc bằng các chỉ số và các phương pháp thực nghiệm theo các phương pháp của xã hội học. Với thế mạnh là định lượng được bằng các chỉ số rõ ràng hiện nay, các công trình nghiên cứu, nhất là các đề tài cấp nhà nước về vấn đề nhân cách, đã chủ yếu áp dụng các phương pháp liên ngành tâm lý học, xã hội học để nghiên cứu nhân cách của từng nhóm đối tượng cụ thể như sinh viên, học 5 sinh, công nhân,... từ đó có những kết luận chung cho nhân cách con người Việt Nam. Những công trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp nhà nước về nhân cách con người Việt Nam đã được thực hiện có thể kể đến là Chương trình Chương trình Về các chương trình này xem thêm bài viết của Vũ Thị Minh Chi in trong cuốn sách do Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc chủ biên, 2004. Trong đó, đáng chú ý là đề tài thuộc chương trình khoa học cấp nhà nước đã áp dụng phương pháp đo đạc tâm lý NEO PIR có sửa chữa và bổ sung cho phù hợp với thực tế Việt Nam để điều tra, đo đạc những đặc điểm giá trị nhân cách của một số tầng lớp người Việt Nam hiện nay thể hiện qua cuốn sách Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO PI-R cải biên do Phạm Minh Hạc chủ biên 2007. Công trình này mô tả kết quả đo đạc điều tra nhân cách của một khối lượng lớn số mẫu đại diện cho các tầng lớp người Việt Nam học sinh, sinh viên, nông dân, công nhân, giáo viên, trí thức, doanh nhân và một số điển hình thành đạt đã tạo cơ sở rút ra những nhận định chung về mặt mạnh, mặt yếu của người Việt Nam hiện nay. Sử dụng phương pháp định lượng mới nhất trên thế giới NEO PI-R để đo đạc nhân cách con người Việt Nam, như chính tác giả khẳng định, có nhiều ưu thế nhất định nhưng vẫn không tránh khỏi “một số điểm bất cập về mặt phương pháp tiếp cận và triển khai nghiên cứu” bởi “có nhiều khía cạnh và chiều sâu của hiện thực mà hệ phương pháp định lượng không thể đáp ứng” Phạm Minh Hạc, 2007 54. Hơn nữa, theo tác giả việc cung cấp một bức tranh toàn diện và sâu sắc về bối cảnh hình thành nhân cách, đặc biệt là nhân cách của các nhóm xã hội khác nhau, chỉ ra những quá trình phức tạp và vô
Cùng với thế kỷ 20 sắp đi qua, nền kinh tế vật chất, dựa chủ yếu trên cơ sở sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, sản xuất, chế biến, phân phối, sử dụng sản phẩm vật chất làm nền tảng, đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức, trong đó việc sản xuất, truyền tải, sử dụng tri thức chi phối toàn bộ các hoạt động kinh nay các giá trị kinh tế lớn nhất đuợc làm ra không phải trong khu vực trực tiếp sản xuất của cải vật chất mà trong khu vực khoa học, kỹ thuật, dịch vụ. Vai trò của tài nguyên thiên nhiên và của cải vật chất sẵn có ngày càng giảm so với tiềm năng trí tuệ, tinh thần, văn ba mươi năm trước, sự tiêu hao vật chất và năng lượng với nhịp độ khó kiềm chế nổi của nền văn minh công nghiệp truyền thống đã khiến các nhà kinh tế thuộc câu lạc bộ Roma lên tiếng kêu gọi các chính phủ ngừng tăng trưởng kinh tế "tăng trưởng zê-rô" để ngăn ngừa thảm hoạ diệt vong, thì cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã đảo lộn tình hình và đưa nhân loại tiến lên một nền văn minh mới, cao hơn nền văn minh trí tuệ, trong đó tăng trưởng không ô nhiễm môi trường sống. Trong xu thế toàn cầu hoá đi đôi với cạnh tranh quyết liệt, nền kinh tế tri thức tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho những nuớc đi sau có thể dựa vào tiềm năng chất xám để nhanh chóng đuổi kịp các nước khác, song cũng hàm chứa những thách thức to lớn, những khó khăn, rủi ro và cạm bẫy không phải luôn luôn dễ nhìn và dễ tránh. Trong lịch sử chưa bao giờ các đặc điểm tâm lý, trí tuệ có ý nghĩa quyết định như bây giờ đối với nền thịnh vượng, thậm chí sự tồn vong của một quốc gia. Trong các điều kiện ấy, sẽ không có gì lạ nếu tới đây bên cạnh một số nước tăng trưởng mau chóng thần kỳ có thể có những nuớc suy sụp thảm hại và tụt hậu vô vậy, phân tích để hiểu rõ những đặc điểm văn hoá, tâm lý của dân tộc, những truyền thống tốt, những yếu tố tích cực, thúc đẩy sự phát triển, cùng với những nhược điểm, những yếu tố chưa tốt, thậm chí tiêu cực, đang hoặc sẽ níu kéo chúng ta lại sau, là việc làm hết sức cần thiết để giúp xây dựng một chiến lược phát triển đúng đắn, phù hợp hoàn cảnh và điều kiện thế giới ngày nay. Cần nhìn lại kỹ bản thân ta không chỉ để tự tin hơn, mà còn để bớt chủ quan trước tình hình mới. Tự soi gương bao giờ cũng có ích, nhưng không phải chỉ để thấy mình đẹp mà còn để thấy mình có những khiếm khuyết gì cần phải sửa, thay vì cố tình bỏ qua hay che nhiên, vấn đề nêu ra rất phức tạp về nhiều mặt, ở đây tôi không dám có tham vọng phân tích kỹ càng, chỉ xin trình bày đôi điều suy ngẫm, lạm bàn một số nét tiêu cực trong tâm lý người Việt Nam mà từ vị trí một người dân thường, một nhà giáo và một nhà khoa học đã khiến tôi băn khoan nhiều và mong muốn có dịp thảo luận để giúp chúng ta tự hiểu rõ mình hơn khi buớc sang thế kỷ thể nói từ ngày đổi mới và mở cửa chúng ta đã nhận thức đuợc tầm quan trọng của kết cấu hạ tầng vật chất trong phát triển kinh tế và đã tập trung xây dựng năng lượng, giao thông, bưu điện, viễn thông, Chỉ vài năm lại đây, khi tăng trưởng chững lại, chúng ta mới bắt đầu ý thức rõ hơn tầm quan trọng của kết cấu hạ tầng tâm-lý-xã-hội tập quán, đặc tính con người, cách nghĩ, cách làm việc, cách sống, quan niệm xử thế , như mỗi con người, một cộng đồng dân tộc có những nét riêng không lẫn được với các dân tộc khác. Ví như đầu óc thực tế của người Mỹ, tính chính xác kỷ luật của người Đức, tinh thần coi trọng danh dự và tính ham học hỏi của người Nhật, sự thông minh tài hoa của người Do thái, tinh thần cố kết dân tộc của các cộng đồng người Hoa, là những đức tính dù chưa hẳn tiêu biểu cũng đã từng có tác dụng rất quan trọng trong quá trình phát triển lâu dài của các dân tộc kể chung người Việt Nam chúng ta được đánh giá là thông minh, hiếu học, cần cù trong lao động, dũng cảm trong chiến là những đức tính hết sức quý báu, đã giúp cho dân tộc ta tồn tại được cho đến ngày nay, trải qua không ít thăng trầm suốt mấy nghìn năm lịch sử. Có thời, do tự tôn dân tộc quá đà sau những chiến thắng vẻ vang chống ngoại xâm, chúng ta nói về các đức tính ấy một cách say sưa, tưởng chừng như thế đã quá đủ để bảo đảm cho dân tộc ta, một khi được giải phóng khỏi ách đô hộ bên ngoài, sẽ nhanh chóng vươn lên về kinh tế, văn hoá, khoa học. Thực tế cho thấy không đơn giản như vậy. Ngày càng thấy rõ, trong sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nước, ngay trong khu vực Đông Nam Á này, các đối thủ của ta đâu chịu thua kém ta về các mặt kể đành dân ta thông minh, tài trí. Nhưng khi dẫn chứng sự thông minh của tổ tiên, nhiều người thường nghĩ đến tài đối đáp, ứng xử nhanh trí của các nhân vật như Mạc Đĩnh Chi, Trạng Quỳnh, Đoàn Thị Điểm, Hồ xuân Hương, ... hay trong thời hiện đại, thành công của một số vị khoa bảng học giỏi, đỗ cao ở nước ngoài. Thật ra, học giỏi, đỗ cao thì thời nào cũng tốt, song việc học thời nay khác với thời xưa, và xã hội văn minh bây giờ đòi hỏi nhiều hơn là chỉ học giỏi, đỗ cao, nhất là sự học giỏi hiểu theo quan niệm cũ kỹ của ta Bill Gates bỏ học, không có bằng cấp cao, nhưng lại là tiêu biểu cho thứ tài năng đắc dụng nhất ở thời đại này. Chính cái quan niệm lạc hậu về học hành, thi cử, đỗ đạt ấy khiến cho xã hội ta nhiều khi chú trọng đào tạo học trò giỏi theo kiểu học gạo nhiều hơn là khuyến khích tài năng đích ai chối cãi người Việt Nam hiếu học, chuộng tri thức tuy gần đây cái động cơ và phương pháp tìm đến và sử dụng tri thức đã bị méo mó khá nhiều. Thời đại này tri thức lại là của báu, vậy tưởng chừng dân ta đã có ưu thế cơ bản để đi vào thế kỷ 21. Thế nhưng vẫn chưa phải. Bởi lẽ cái động lực hàng đầu để thúc đẩy xã hội tri thức phát triển là đầu óc tưởng tượng sáng tạo, mà - tôi xin lỗi nếu phải nói ra một điều có thể xúc phạm tự ái dân tộc của nhiều người - chúng ta còn nghèo trí tưởng tượng. Thật vậy, những ai còn nghi ngờ điều này xin hãy bình tĩnh đảo mắt nhìn qua một lượt các kiểu nhà biệt thự mới mọc lên ở thành phố trong thời mở cửa, và dạo qua các cửa hiệu, các chợ đầy ắp hàng Trung Quốc, hàng Thái Lan đang nghiễm nhiên tràn ngập thị trường. Từ quần áo, đồ chơi trẻ em, đồ dùng văn phòng, cho đến xe đạp, quạt máy, nhiều hàng nội của ta không cạnh tranh nổi vì thua kém mẫu mã, hình dáng, chủng loại, giá cả, và nhiều khi cả chất lượng, công dụng. Đâu phải kỹ thuật ta không đủ trình độ làm ra các sản phẩm như họ. Chẳng qua chúng ta từ lâu quá quen sao chép, ít chịu khó nghĩ ra ý tưởng mới. Nhìn lại từ cái bàn, cái ghế, cái giường, cho đến cây bút, cái cặp sách thời bao cấp ở miền Bắc mới thấy rõ sao mà ta tự bằng lòng dễ dàng đến vậy, có thể nói 50 năm không hề suy nghĩ thay đổi. Cả đến cách dạy, cách học ở nhà trường. Thời tôi đi học, tôi đã học toán như thế nào thì bây giờ các cháu học sinh phổ thông cũng học gần y như thế, chỉ có khác là lớp chuyên rất nhiều và học thêm, luyện thi vô tội nhiên ở đây có vấn đề hoàn cảnh và cơ chế, bởi vì cũng những con người ấy, hay cha chú họ, lại có đầu óc tưởng tượng phong phú biết bao trong cuộc chiến đấu chống xâm lược. Có lẽ do hoàn cảnh lịch sử, ông bà ta bị lối học từ chương khoa cử gò bó tư duy, cho nên so với nhiều dân tộc khác chúng ta ít có những nhà tư tưởng lớn, những triết gia tầm cỡ mà ảnh hưởng sau nhiều thế kỷ còn tiếp tục tác động đến xã hội. Ta cũng ít có những công trình kiến trúc đồ sộ, dựa trên sức tưởng tượng phóng khoáng đáng kinh ngạc, huy động hàng vạn, hàng chục vạn con người lao động xây dựng hết thế hệ này sang thế hệ khác, trong hàng trăm năm. Về văn học, những tác phẩm hay nhất của ta cũng chủ yếu làm say đắm lòng người bởi văn chương mựơt mà trau chuốt, gợi cho ta những tình cảm ưu ái thiết tha, giúp ta hiểu thấu hơn nhân tình thế thái. Chứ cũng ít có những pho truyện lớn, với tình tiết phức tạp, ý tưởng kỳ lạ, độc đáo, lôi cuốn ta vào những thế giới nửa thực nửa hư, vượt ra khỏi các giới hạn thực tại tầm thường. Phải chăng ta không có các loại tiểu thuyết như Tam Quốc, Thuỷ hử, Hồng Lâu Mộng, hay các truyện của A. Dumas, Victor Hugo, L. Tolstoi, Dostoevski,..., điều đó ít nhiều cũng nói lên cái nhược điểm của dân tộc ta?Einstein đã có một câu nói nổi tiếng Trí tưởng tượng còn quan trọng hơn tri thức. Giờ đây, tại nhiều đại học ở phương Tây câu nói ấy được coi như một khẩu hiệu, một phương châm đào tạo để bước vào thế kỷ mới, khi mà ai cũng biết và cũng tin rằng tri thức là yếu tố quyết định sự phồn vinh của các quốc nghe tưởng như một nghịch lý, nhưng thật ra là chân lý rất sâu sắc, tổng kết kinh nghiệm của một nhà bác học lỗi lạc bậc nhất mà cống hiến vĩ đại đã tạo điều kiện mở đường cho sự ra đời nền văn minh trí tuệ. Ai cũng biết tri thức cực kỳ quan trọng, thời nay càng quan trọng hơn bất cứ thời nào trước đây, nhưng ý nghĩa thời sự của chân lý đó là, hơn bất cứ thời nào trong lịch sử, tri thức mà thiếu sức tưởng tượng dễ biến thành tri thức chết, tri thức vô dụng, không có tiềm năng phát triển. "Biết" và "hiểu" là rất cần để làm theo, đi theo, chứ hoàn toàn chưa đủ để sáng tạo, khám phá. Thời nay hơn bao giờ hết, những tác phẩm không hồn, không cá tính, những sản phẩm không mang theo dấu ấn gì đặc biệt, nhàm chán như bao nhiêu thứ lặp đi lặp lại hàng ngày trong cuộc sống bằng phẳng, thì vô luận đó là ý tưởng, dịch vụ hay vật phẩm tiêu dùng cũng đều không có sức thu hút và do đó không có sức cạnh tranh. Cho nên, thiếu sức tưởng tượng là một khiếm khuyết lớn mà tới đây ta phải cố gắng khắc phục bằng mọi cách, truớc hết từ cơ chế quản lý xã hội và sự chấn hưng nền giáo dục từ nhiều năm chỉ thiên về nhồi nhét trí nhớ, bắt chước máy móc, và kiềm chế cá đôi với trí tưởng tượng chưa đủ phong phú, một loạt đức tính cần thiết khác để cạnh tranh thắng lợi trong nền kinh tế toàn cầu hoá cũng chưa rõ rệt là mặt mạnh của người Việt Nam so với nhiều dân tộc khác đầu óc kinh doanh hiện đại, cung cách làm ăn lớn, tính toán nhìn xa, trông rộng, táo bạo, nhạy cảm và năng động với cái mới, thích ứng mau lẹ để xoay chuyển tình thế khi gặp khó khăn, bền bỉ và quyết tâm theo đuổi đến cùng một sự nghiệp được yêu thích, miệt mài học tập, ngẫm nghĩ và phân tích sâu sắc, nghiên cứu nghiêm túc để tìm hiểu cặn kẽ đạo lý của mọi vấn đề. Có lẽ do quá lâu quen sống trong cảnh nghèo thiếu nên người dân ta nhiều khi dễ nhẫn nhục an phận, dễ bằng lòng với những thay đổi nhỏ, những suy tính cá nhân hời hợt, thiển cận theo lối cò con. Vì không cực đoan nên ít có đổ vỡ lớn, nhưng dễ bảo thủ, ít dám chấp nhận rủi ro tìm con đường mới do đó cũng dễ lâm vào trì trệ triền miên. Không có thói quen tính toán hiệu quả, thiếu đầu óc thực tế, lại ham chuộng hình thức, chạy theo hư danh viển vông, kém khả năng và kinh nghiệm hợp tác, góp sức cùng nhau thực hiện một mục tiêu, một kế hoạch lớn, cho nên ít xây dựng được êkip mạnh về một lĩnh vực nào, thường chỉ có nhiều cá nhân giỏi đứng riêng lẻ mà không hợp lại được để tạo ra synergy cao, hình thành những tập thể hùng mạnh, xuất sắc. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại cũng thể hiện ít nhiều một tinh thần rời rạc như thế, ý thức đoàn kết giúp đỡ nhau không được như các cộng đồng Do thái hay Hoa kiều, cũng do đó ít có người giàu thật lớn, ít có nhà khoa học thật tầm cỡ, thường chỉ đến một địa vị nào đó là thoả mãn, mệt mỏi, không mấy người đeo đuổi tham vọng thật cao xa. Tất cả những nhược điểm trên, nếu không chú ý khắc phục, đều sẽ trở thành những lực cản không cho phép chúng ta tiến nhanh ở thời đại kinh tế tri thức câu hỏi đặt ra Tại sao trong chiến đấu chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam có thể tỏ ra xuất sắc vô song về trí tưởng tượng, về thông minh, tài trí, dũng cảm, mà trong xây dựng thời bình chưa đuợc như vậy? Phải chăng vì ta chưa khêu gợi, nuôi dưỡng được trong nhân dân một ý chí tự cường mạnh mẽ, một quyết tâm rửa nhục nghèo nàn lạc hậu cũng cao ngang như quyết tâm rửa nhục mất nước trước đây?
Khi một người bạn của tôi tâm sự với bố mẹ rằng anh ấy đang bị trầm cảm, họ cho rằng anh bị vậy là do “không chịu ra ngoài nhiều”. Đối với họ, trầm cảm dường như là một thứ gì đó do bản thân người bệnh tự gây ra và cũng có thể tự vượt qua được, miễn là người bệnh đừng quá yếu đuối và nhạy suy nghĩ như trên về bệnh tâm lý không phải là hiếm gặp. Cho đến những năm gần đây, sức khỏe tâm lý vẫn là một chủ đề khó nói và chứa đựng nhiều thành kiến tại Việt Nam. Điều này càng gây khó khăn hơn cho người bệnh trong việc giãi bày và tìm kiếm sự trợ giúp khi cần khỏe tâm thần quan trọng là thế, nhưng tại sao nó lại không được coi trọng tại Việt Nam? Dưới đây là 3 nguyên nhân chính cho vấn đề Văn hóa cộng đồngKhác với các nước phương Tây, Việt Nam có một lối sống cộng đồng đặc trưng lợi ích của tập thể gia đình, họ hàng, xã hội… luôn được ưu tiên hàng đầu. Điều này không hẳn là có hại, vì nó giúp ích cho sự phát triển và lợi ích chung của một tập nhiên, lối sống ấy cũng khiến cho các nhu cầu cá nhân bị xem nhẹ và bỏ qua. Với những người mắc bệnh tâm lý, lối sống cộng đồng càng khiến cho họ khó nói lên khó khăn của mình, vì lo ngại rằng sẽ bị cho là ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến bản ra, lối sống này cũng khiến cho người ta quan tâm quá mức tới những gì người khác nghĩ về mình. Đôi khi, những gia đình có thành viên bị mắc các chứng rối loạn tâm lý không đưa họ đi thăm khám kịp thời, chỉ vì lo ngại hàng xóm và bạn bè sẽ biết gia đình có người “mắc bệnh tâm thần”. Với lối sống cộng đồng luôn ưu tiên lợi ích tập thể, những người mắc bệnh tâm lý càng khó nói lên khó khăn của báo cáo của UNICEF có đề cập “Nói đến tâm thần là người ta cũng thường có ý mỉa mai, khinh ghét hoặc là muốn chối bỏ. Gia đình nào có người bệnh tâm thần cũng cảm thấy bị ám ảnh chuyện đó. Nếu bị bệnh nào khác người ta có thể chia sẻ với người ngoài như tôi bị đau bao tử, còn bị trầm cảm lo âu, tâm thần là giấu. Có khi đi khám bệnh nhưng cũng giấu người này người kia”.Chúng ta không nhất thiết phải chối bỏ lối sống cộng đồng, vì đây đã trở thành một nét văn hóa riêng của người Việt nói riêng và châu Á nói chung. Tuy nhiên, chúng ta nên tạo điều kiện để mỗi cá nhân có thể bày tỏ suy nghĩ, mong muốn của riêng mình nhiều được, bạn hãy cố gắng lắng nghe một cách không phán xét những người mắc bệnh tâm lý, động viên họ có thể nói ra những khó khăn của mình. Vì suy cho cùng, chỉ khi những nhu cầu cá nhân được đáp ứng thì mọi người mới có thể yên tâm đóng góp và cống hiến cho xã Cách dạy con “thương cho roi cho vọt”Hẳn là người Việt nào cũng đã từng nghe đến câu “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Câu thành ngữ này đại diện cho một hệ tư tưởng giáo dục điển hình tại Việt Nam việc đánh mắng con cái là bình thường thậm chí cần thiết. Ngược lại, khen ngợi và đối xử nhẹ nhàng với trẻ nhỏ được xem là nuông chiều và là một phương pháp giáo dục kém hiệu này khiến cho con cái luôn gặp khó khăn trong việc thổ lộ những tâm tư, suy nghĩ của bản thân với cha mẹ. Đặc biệt là đối với những người mắc các chứng rối loạn tâm lý, vì họ là đối tượng cần nhiều sự thấu hiểu và hỗ trợ về mặt cảm xúc từ người thân. Tư tưởng giáo dục “thương cho roi cho vọt” khiến con trẻ e ngại việc thổ lộ tâm tư, suy nghĩ của bản thân với cha nhiên, đây cũng không hẳn là lỗi của ba mẹ. Tư tưởng trên đã khắc sâu vào lối sống người Việt, khiến cho việc thay đổi không thể diễn ra một sớm một chiều. Vì vậy, nếu là một người mắc các rối loạn tâm lý, bạn có thể sử dụng cách “mưa dầm thấm lâu” để khiến ba mẹ dần hiểu hơn về tình trạng của ngày, bạn có thể đề cập một chút những kiến thức về sức khỏe tâm lý cho họ. Bạn cũng có thể nhờ đến sự giúp đỡ từ bạn bè hoặc bất kỳ người thân nào đã hiểu và ủng hộ bạn. Ngoài ra, việc tìm kiếm sự trợ giúp từ bác sĩ tâm lý cũng là một cách tốt. Các chuyên gia tâm lý sẽ có chuyên môn và nghiệp vụ riêng, giúp bạn và gia đình dễ dàng mở lòng với nhau Sức khỏe tâm thần vẫn còn là một lĩnh vực mớiSo với các ngành khác, tâm lý học vẫn là một ngành khoa học còn non trẻ. Đa số các nghiên cứu đột phá trong ngành mới chỉ được thực hiện trong vòng 150 năm trở lại đây. Tại Việt Nam, tâm lý và tâm thần học cũng là một lĩnh vực còn mới và chưa được biết đến rộng rãi. Ngành tâm thần học ở nước ta cũng được cho là chưa đáp ứng được nhu cầu về mặt nhân lực và cơ sở hạ tầng trong việc điều trị các bệnh tâm vậy, đa số người dân Việt Nam vẫn còn biết rất ít các thông tin về tâm lý và tâm thần học. Từ đó, họ dễ dàng có những thành kiến về những người mắc bệnh tâm lý, cho rằng họ đều là “người điên”. Ngành tâm thần học của Việt Nam vẫn còn non trẻ, chưa đáp ứng đủ nhu cầu về mặt nhân lực và cơ sở hạ tầng. Đa số người dân Việt Nam vẫn còn biết rất ít các thông tin về tâm lý và tâm thần thực tế, tương tự như những căn bệnh về thể chất, các rối loạn tâm thần rất đa dạng. Không phải ai mắc bệnh tâm thần đều là “người điên” hay có xu hướng bạo lực. Chỉ khoảng 3-5% số vụ bạo lực là có liên quan đến những người mắc bệnh tâm lý nghiêm khi đó, họ lại có khả năng trở thành nạn nhân của các vụ bạo lực cao gấp 10 lần so với thông thường. Những người có vấn đề về tâm lý cũng được cho là có thái độ tốt, năng suất và quãng thời gian làm việc tại công ty bằng hoặc cao hơn so với những nhân viên với sự phát triển của đất nước, ngành tâm lý – tâm thần học tại Việt Nam chắc chắn sẽ ngày càng được cải thiện và nâng cao. Trong lúc đó, mỗi bản thân chúng ta có thể tự trang bị thêm những kiến thức đúng đắn về sức khỏe tâm thần. Điều này không chỉ giúp ích cho việc thấu những người mắc bệnh tâm lý hơn, mà còn hỗ trợ bản thân trong việc phòng ngừa các vấn đề về sức khỏe tâm lý thông viết được thực hiện bởi Sơn ảnh được thực hiện bởi Trà thêm[Bài viết] Rối loạn lưỡng cực không chỉ là vui buồn thất thường![Bài viết] Trầm cảm theo mùa là gì? Vì sao thời tiết khiến cảm xúc rối loạn?
• Đã gọi là phong cách, ít ra phong cách ấy cũng xuất phát từ hơn nửa thế kỷ, hoặc hơn nữa, không thể nhìn vào hiện tượng vài mươi năm rồi mất hẳn. Và trong tương lai, phong cách xưa vẫn còn tồn tại, phát triển, khó thay đổi về cốt lõi. • Phong cách của người Sài Gòn so với cả nước không có gì khác lạ. Ở đâu trên nước Việt Nam mà người dân không hiếu khách, trọng nghĩa khinh tài, lanh lẹ, cần cù, nhưng ở Sài Gòn, phong cách ấy thể hiển đậm nét, ở vài khía cạnh nào đó. Phong cách nào phải do trời đất ban cho, nhưng thành hình do hoàn cảnh bắt buộc con người phải thích ứng, hội nhập, bằng không thì dễ bị đào thải. Thích ứng để tồn tại, vươn lên. Hoàn cảnh do sinh hoạt kinh tế, với quy luật riêng. Ai cũng biết, đó là văn minh biển Sài Gòn là hải cảng, ngay từ khi mở nước 300 năm trước, để giao lưu với các nước Đông Nam Á, sau đó là các nước phương Tây. Sài Gòn cũng là nơi nhộn nhịp với văn minh sông nước về phía đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, Sài Gòn còn là không cảng quốc tế quan trọng. Mà khi đã là vùng cảng, thì luôn luôn có nhiều dịch vụ cần thiết, để thu mua hàng hóa, phân phối hàng hóa… đời sống tương đối ddễ dàng hơn so với nông dân vùng xa, vùng sâu. Thành phố cảng phải có hạ tầng cơ sở cần thiết như nhà ở, đường xá, cống rãnh, bệnh viện, trường học, ăn uống, giải trí … Một yếu tố quan trọng phải được nhắc đến, đó là trên đường mở nước, từ những làng mạc khép kín với lũy tre, làng xóm lần hồi mở rộng ra, chỉ còn ranh giới mơ hồ về quản lý hành chính. Người đã bỏ làng quê không bị ràng buộc chặt chẽ về luân lý phong kiến, thể diện gia tộc. Với phố cổ Hội An thời Chúa Nguyễn, mặc nhiên vua chúa phải ban hành cho phía Nam một qui chế dễ dãi. Quá khứ người tù đày, thường phạm bắt buộc phải đi khẩn hoang vẫn còn trong tiềm thức. Đi xa quê hương, nhưng vẫn gắn bó với sông Mã, sông Hồng, non sông liền một dải, chung một lịch sử, một văn hóa, cụ thể là về phong tục vẫn giữ cốt lõi, qua những lễ hội, văn hóa, văn học … Người Sài Gòn cũng ưa nghe tin tức, hay còn gọi là tìm lượng thông tin, bởi vậy báo chí là là món ăn cần thiết. Họ đọc báo để tìm hiểu tình hình chung, đặc biệt là tin tức liên quan đến công việc làm ăn hàng ngày của mình. Thiếu lượng thông tin, hóa ra lạc hậu, thất bại trong việc làm ăn, vì tình hình luôn biến động từng giờ, từng phút. Và cũng vì ngành này liên quan đến ngành khác, người ta phải đọc báo để kiểm tra cho đầy đủ. Ngồi quán cà phê đọc báo, chờ bạn bè, ai không đọc báo thì lắng nghe người đã đọc tóm lược giùm. Ta không lấy làm lạ khi thấy báo bán chạy, nhất là báo Sài Gòn giải phóng, cần thiết để hiểu đường lối cho mọi công dân. Báo Công An thành phố Hồ Chí Minh bán chạy lạ thường, hợp với khẩu vị của nhiều giới tin xác thực, đọc lên thấy vui. Lại còn biết được thủ đoạn gian manh để đề phòng. Đọc báo để giải trí, xem quảng cáo xe cộ, nhà đất… ngồi không cũng vô ích. Giao thiệp với bạn bè, tìm bạn mới, trao đổi nhau số điện thoại, danh thiếp. Ăn uống lặt vặt, ai trả tiền cũng được, người tuy khác ngành nghề nhưng biết đâu sẽ giúp đỡ mình chuyện gì đó. Làm quen với anh phu xích lô, cũng là một dịp huống gì với một thương gia. Người đang thất nghiệp cũng có thể giúp đỡ ta khi có dịp. Làm dịch vụ mua bán lớn nhỏ cần sự sòng phẳng. Làm ăn vui vẻ, bất chấp đối tác của mình có quá khứ như thế nào, miễn là giữ chữ tín. Ai gặp khó khăn, có thể thất tín, nhưng phải khiêm tốn xin lỗi. Giận hờn để làm lành, với một tiệc nhỏ rồi bỏ qua, nhưng theo luật giang hồ là “bất quá tam”, nghĩa là đến lần thứ ba thì không khoan dung được. Hào hiệp, nghĩ rằng người đến Sài Gòn đa số là kẻ sa cơ thất thế, vì vậy mà giúp đỡ tận tình, nhưng đừng hiểu lầm đó là ngây thơ, khờ khạo. Là vùng ít thiên tai, bão lụt nên dễ sống. Có nhiều dịch vụ linh tinh, nhờ thế người nghèo có thể sống được, thậm chí, nếu chịu khó thì cũng có thể khá lên được sau vài tháng. “Tiến thì về nội, thôi thì về ngoại”, còn hậu phương thì khá vững, đó là bà con, họ hàng bên vợ, là bạn bè chí cốt ở đồng bằng hoặc miền Đông. Các Chị ở Sài Gòn nói riêng và Nam Bộ nói chung khá linh hoạt, giỏi làm kinh tế, nhất là trong nghề tiểu thương, tảo tần nuôi chồng con, hiếu đễ với cha mẹ. Ngoài ra còn có thói quen cho vay tiền bạc góp, làm ăn nhờ tiền vay này, “làm bữa nào xào bữa ấy”. Ta thấy suốt ngày, thậm chí đến 8 giờ khuya vẫn còn có người đi chợ mua rau cải, gạo cá. Ham thích du lịch, nhất là đi chùa chiền, miếu mạo theo sự đồn đại của bạn bè. Tư tưởng đa thần, cái gì cũng theo, cũng tin, để cầu mong phước đức kinh tế thị trường quả là sự rủi may, cho nên giàu thì không dám khinh lờn thần thánh, nghèo thì khấn vái để được gặp may mắn. Nét tích cực nhất của người Sài Gòn là làm điều từ thiện, theo cảm tính, dễ thương người. Luôn giúp người khuyết tật, nạn nhân bão lụt, thiên tai, theo quan niệm “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Hiện nay, những phong cách trên của người Sài Gòn vẫn còn thể hiện khá rõ. Mặc dầu lúc giao thời với kinh tế thị trường, một số người trẻ tuổi có những biểu hiện nông nổi, nhưng quá 50 tuổi, ai cũng trở về nguồn với kỷ niệm, với tâm linh. Sơn Nam Trích trong “Tâm lý người Việt Nam nhìn từ nhiều góc độ”
tâm lý người việt nam nhìn từ nhiều góc độ